Trang chủ

Hội thảo “KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỚI VỀ HẬU QUẢ CỦA CHẤT DA CAM/DIOXIN”

Ngày đăng : 31/10/2014

Ngày 29 tháng 10 năm 2014, Văn phòng Chương trình “Nghiên cứu khắc phục hậu quả lâu dài chất da cam/dỉoxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đối với môi trường và sức khỏe con người”, KHCN 33/11-15 đã tổ chức buổi Hội thảo thông báo các kết quả mới của các đề tài thuộc Chương trình.

Tham dự có các thành viên Hội đồng tư vấn Khoa học và Công nghệ Ban Chỉ đạo 33; thành viên Ban Chủ nhiệm Chương trình KHCN 33/11-15 ;  đại diện các cơ quan khoa học, quản lý thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các chủ nhiệm đề tài thuộc Chương trình. Tổng cộng có 9 báo cáo đã được trình bầy tại hội thảo, bao gồm các đề tài thuộc lĩnh vực môi trường , y – sinh học và pháp lý. Chúng tôi xin điểm những kết quả chính từ các nghiên cứu về lĩnh vực ảnh hưởng của chất da cam/dioxin đối với môi trường.


Trao đổi tại hội thảo.                                                                                                    Ảnh Minh Vân.

* Báo cáo của TS. Nguyễn Văn Minh, Hội đồng tư vấn Khoa học và Công nghệ Ban Chỉ đạo 33  “Tổng quan về sự tồn lưu dioxin có nguồn gốc từ chất diệt cỏ ở Việt Nam – Phương hướng và giải pháp khắc phục” đã cho thấy bức tranh toàn cảnh về hiện trạng ô nhiễm chất diệt cỏ/dioxin ở Việt Nam ở các điểm nóng đã biết. Báo cáo chỉ tập trung vào 3 sân bay ô nhiễm nặng, Phù Cát, Biên Hòa và Đà Nẵng, chứ chưa quan tâm đến các vùng bị phun rải và các khu vực được biết có tồn lưu chất diệt cỏ/dioxin như A Lưới, Mã Đà…Báo cáo cho biết: 1) Sân bay Phù Cát, một trong ba điểm nóng ô nhiễm chất da cam/dioxin đã được xử lý bằng chôn lấp, cô lập 7.500 m3. Kết quả quan trắc môi trường không khí và nước sau khi hoàn thành chôn lấp cho thấy môi trường an toàn; 2) Sân bay Đà Nẵng:  Ước tính ban đầu là 76.000 m3 đất và bùn ô nhiễm cần phải xử lý bằng công nghệ giải hấp nhiệt tại mố (IPTD, in pile thermal destruction). Sau thời gian chuẩn bị kéo dài nhiều năm, ngày 1/6/2014 chính thức đóng điện, tiến hành xử lý 44.100 m3 đất nhiễm dioxin (giai đoạn 1). Dự kiến cuối tháng 11 năm 2014 hoàn thành xử lý lô đất ô nhiễm đầu tiên này và chuẩn bị cho giai đoạn 2. Dự kiến đến 2016 thì hoàn thành xử lý toàn bộ lượng đất, bùn ô nhiễm.  Tuy nhiên, trong quá trình xử lý giai đoạn 1 đã có những vấn đề nảy sinh cần phải giải quyết như: Lượng than hoạt tính để hấp thụ dioxin  lớn hơn dự tính; Lượng đất và bùn cần xử lý là 143.000 m3 (gần gấp đôi khối lượng theo ước tính xây dựng dự án). Những vấn đề này Bộ Quốc phòng Việt Nam (chủ dự án) cần sớm trao đổi với Cơ quan phát triển Hoa Kỳ (US AID) thống nhất phương án giải quyết; 3) Sân bay Biên Hòa: Sân bay Biên Hòa được đánh giá là sân bay bị ô nhiễm chất da cam/dioxxin nặng nhất và phức tạp nhất vì: Khối lượng đất, bùn ô nhiễm lớn nhất so với các sân bay khác; Ô nhiễm ở rất nhiều điểm khác nhau và đã lan tỏa ô nhiễm; Nguy cơ phơi nhiễm với cộng đồng rất lớn. Ngay từ những năm 1990 chính phủ Việt Nam  đã bắt đầu điều tra đánh giá ô nhiễm. Sau khi có kết quả ban đầu Bộ Quốc phòng chủ trì và phối hợp với một số cơ quan xử lý khoảng 99.000 m3 trên diện tích 4,3 ha bằng phương pháp chôn lấp cô lập (gọi là dự án Z1 hoặc XĐ1, xong năm 2011), trong đó có 3.800 m3 được xử lý thử nghiệm với phương pháp chôn lấp kết hợp xử lý sinh học. Năm 2013 Bộ Quốc phòng  đã phê duyệt dự án XĐ2 để thu gom, chôn lấp cô lập đất nhiễm tại khu vực bị ô nhiễm cao là khu Nam sân bay (khu sân bóng) và khu Nam Z1, các khu này cũng là nguồn gây ô nhiễm lan tỏa cho trầm tích tại các hồ phía Nam khu Z1 (hồ số 1; số 2) và hồ cổng 2. Tuy nhiên nếu dự án XĐ2 này kết thúc (dự kiến 2016) thì cũng chỉ thu gom chôn lấp được một phần trong số 250.000m3 đất, bùn ô nhiễm ước tính. Hiện tại US AID và BQP đang triển khai đánh giá môi trường (EA), dự kiến 2016 hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường để trình phê duyệt ĐTM. Kinh phí thực hiện EA do US AID tài trợ. Báo cáo cũng đề xuất một số việc cần phải triển khai cấp bách tại sân bay Biên Hòa là: Quan trắc môi trường, đánh giá mức độ ô nhiễm nước ngầm; Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục kết hợp ngăn cấm nuôi trồng, sử dụng thực phẩm nuôi trồng ở các điểm ô nhiễm. Xác định chính xác khối lượng đất và trầm tích bị ô nhiễm cần xử lý (kể cả khu vực lân cận ngoài sân bay). Lựa chọn được công nghệ khả thi để xử lý triệt để khối lượng lớn đất và trầm tích bị ô nhiễm chất da cam/dioxin.

* Báo cáo “ Sự khác biệt đặc trưng của dioxin từ chất da cam/dioxin và các nguồn phát thải khác ở Biên Hòa” do TS. Nguyễn Hùng Minh, Quản đốc dự án Phòng phân tích dioxin trình bầy. Qua kết quả nghiên cứu bước đầu về nồng độ và đặc trưng đồng loại của PCDD/Fs trong các mẫu môi trường thu thập tại sân bay Biên Hòa và các mẫu phát thải công nghiệp, một số kết luận được rút ra như sau: 1) Nồng độ TEQ trong các mẫu thu thập tại khu ô nhiễm chất da cam/dioxin sân bay Biên Hòa là rất cao; 2) Nồng độ TEQ trong các mẫu phát thải từ các lò đốt rác và luyện thép tại Biên Hòa là tương đối cao so với tiêu chuẩn hướng dẫn của Việt Nam và thế giới nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các mẫu thu thập tại các khu vực nhiễm chất da cam/dioxin sân bay Biên Hòa; 3) Phân tích đặc trưng đồng loại của PCDD/Fs trong các mẫu thu thập tại các khu nhiễm chất da cam/dioxin sân bay Biên Hòa và các mẫu phát thải cho thấy PCDD là nhóm đồng loại chiếm tỷ lệ cao trong tổng TEQ, trong khi PCDF là nhóm đồng loại chủ yếu trong các mẫu phát thải công nghiệp.     2,3,7,8-TCDD là đồng phân đóng góp chủ yếu vào tổng TEQ trong các mẫu thu thập tại khu nhiễm chất da cam/dioxin, trong khi 2,3,4,7,8-PeCDF là đồng phân chiếm tỷ lệ lớn trong tổng TEQ của các mẫu phát thải công nghiệp. Ý kiến nhận xét của hội thảo tập trung vào “dioxin từ phát thải khác”. “Dioxin từ phát thải khác” là một thuật ngữ chỉ nguồn gốc dioxin không phải từ chất diệt cỏ do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, nhưng không phải từ một nguồn duy nhất như từ các lò luyện kim (mà ngay các lò luyện kim cũng có cơ cấu thành phần PCDD, PCDF…khác nhau nếu công nghệ luyện khác nhau) mà cồn phát thải từ nhiều ngành công nghiệp khác. Vì vậy, thời gian tới đề tài cần phải bổ sung số liệu về các nguồn phát thải khác nhau.

* Một số kết quả nghiên cứu ban đầu công nghệ tích hợp xử lý triệt để chất da cam/dioxin trong đất và trầm tích phù hợp điều kiện Việt Nam do TS. Lâm Vĩnh Ánh, Cục Kỹ thuật – Bộ tư lệnh Hóa học, Chủ nhiệm đề tài KHCN 33.02/11-15 thay mặt nhóm tác giả trình bầy. Báo cáo đã tổng quan các công nghệ hiện nay được áp dụng ở Việt Nam và thế giới để xử lý đất và trầm tích ô nhiễm dioxin, nghiên cứu và xây dựng mô hình thử trong phòng thí nghiệm (in vitro) và pilot quy mô nhỏ xử lý đất ô nhiễm dioxin. Nguyên lý cơ bản của mô hình công nghệ mà nhóm tác giả trính bầy là xử dụng chất hấp thụ bề mặt, rửa, tách chiết lemon (thành phần có trong đất, bùn) và mùn sét (dioxin tích tụ chủ yếu trong các loại thành phần đất nay) sau đó sử dụng công nghệ khác để tiếp tục xử lý triệt để. Như vậy, thay vì phải xử lý một khối lượng đất rất lớn, công nghệ rửa, tách cho phép giảm đáng kể khối lượng đất ô nhiễm cần xử lý. Với khối lượng chất cần xử lý nhỏ có thể thực hiện dễ dàng hơn, hiệu quả cao hơn và với chi phí hợp lý hơn. Những ý kiến đóng góp của hội thảo yêu cầu phải làm rõ hơn tính an toàn của công nghệ (nước rửa thải xử lý thế nào?); Công suất rửa, tách ? Hiệu suất rửa, tách nếu chỉ giảm khoảng 80% khối lượng ban đầu thì khối lượng phải xử lý vẫn còn rất nhiều…Những vấn đề này sẽ được làm rõ hơn trong giai đoạn tới.

Những kết quả từ các nghiên cứu về lĩnh vực ảnh hưởng của chất da cam/dioxin đối với môi trường được trình bầy tại hội thảo là những kết quả ban đầu, cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn chỉnh. Những nghiên cứu được trình bầy tại hội thảo có những đóng góp quan trọng trong công tác khắc phục hậu quả của chất da cam/dioxin đối với môi trường.

Vũ Chiến Thắng
Văn phòng Ban Chỉ đạo 33


Tags :

Chi tiết bài viết